Bấm vào đây để xem thống kê điểm chuẩn lớp 10 các tỉnh thành

Thực tập sinh - Du học - Xuất khẩu lao động Nhật Bản bấm vào đây
Nhiều nhà triết học phương Tây thế kỷ XVII-XVIII coi con người như một cái máy, lấy quy luật cơ học hoặc lấy yếu tố bản năng để giải thích bản chất con người. Các nhà triết học khai sáng thế kỷ XVIII coi con người là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh và giáo dục, chưa đánh giá đúng mức vai trò to lớn của yếu tố chủ quan và hoạt động thực tiễn của con người trong việc cải tạo hoàn cảnh sống của mình.


Tiểu luận trung cấp chính trị, quản lí giáo dục: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 
Lĩnh vực áp dụng: Tiểu luận dành cho tốt nghiệp lớp Trung cấp chính trị, Thạc sĩ Quản lí Giáo dục, Tiểu luận Quản lí nhà nước ngạch chuyên viên về giáo dục, Tiểu luận lớp chuyên viên chính

I. MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC TRƯỚC MÁC.

Trong lịch sử tư tưởng, có rất nhiều cách tiếp cận vấn đề con người. Từ thời cổ đại, các trường phái triết học đều tìm cách lý giải vấn đề bản chất con người, quan hệ giữa con người đối với thế giới xung quanh.
“Các trường phái triết học tôn giáo phương Đông như Phật giáo, Hồi giáo nhận thức bản chất con người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận. Trong triết học Phật giáo, con người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vật chất và tinh thần). Vì vậy, cuộc đời con người khi còn sống chỉ là sống gửi, là tạm bợ. Cuộc sống vĩnh cửu là phải hướng tới cõi Niết bàn, nơi tinh thần con người được giải thoát để trở thành bất diệt.  Còn theo Nho giáo, các nhà tư tưởng Nho giáo cho rằng bản chất con người là do trời sinh, khi vừa mới sinh ra con người đã mang sẵn bản chất thiện hoặc ác.
Quan điểm một số trào lưu triết học duy tâm khách quan: Tuy không xuất phát từ thần thánh, nhưng giải thích nguồn gốc của con người không kém phần bí hiểm, như từ thế giới ý niệm, ý niệm tuyệt đối, đạo, thái cực, v. v..
Các quan điểm duy tâm chủ quan: Tuy không thừa nhận nguồn gốc siêu tự nhiên của con người nhưng cũng đều tyuệt đối hoá đời sống tinh thần của con người, không thấy mối quan hệ giữa ý thức với cơ thể, với đời sống vật chất của con người.
Quan điểm duy vật trước Mác: Nhìn thấy sự thống nhất giữa cơ thể và ý thức, bác bỏ quan niệm duy tâm, tôn giáo về nguồn gốc siêu tự nhiên của con người, về linh hồn của cuộc sống ở kiếp sau. Tuy nhiên, quan điểm duy vật trước Mác tuyệt đối hoá mặt sinh học của con người, chưa thấy vai trò quyết định của mặt xã hội của con người.
Nhiều nhà triết học phương Tây thế kỷ XVII-XVIII coi con người như một cái máy, lấy quy luật cơ học hoặc lấy yếu tố bản năng để giải thích bản chất con người. Các nhà triết học khai sáng thế kỷ XVIII coi con người là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh và giáo dục, chưa đánh giá đúng mức vai trò to lớn của yếu tố chủ quan và hoạt động thực tiễn của con người trong việc cải tạo hoàn cảnh sống của mình.




Trong triết học phương Tây trước Mác, các nhà triết học cho rằng số phận con người là do Thượng đế sắp đặt. Đó là những quan niệm theo chủ nghĩa thần học thời trung cổ. Đến thời kỳ Phục Hưng, triết học đã phát triển thêm một bước khi đề cao vai trò trí tuệ, lý tính của con người.
Có thể thấy rằng, trong triết học trước Mác, dù là trường phái triết học nào cũng chưa có những nhận thức đúng đắn về bản chất con người.

II. QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI  VÀ VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI.
1. Con Người Là Một Thực Thể Thống Nhất Giữa Mặt Sinh Vật Và Mặt Xã Hội

Triết học Mác khẳng định con người hiện thực là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội. 
Kế thừa các quan điểm tiến bộ trong lịch sử triết học, dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, trực tiếp là thuyết tiến hóa và thuyết tế bào, triết học Mác khẳng định con người vừa là sản phẩm phát triển lâu dài của giới tự nhiên, vừa là sản phẩm hoạt động của chính bản thân con người. Con người là thực thể thống nhất giữa các yếu tố sinh vật và các yếu tố xã hội – là thực thể sinh vật – xã hội.
Con người là thực thể sinh vật, vì con người dù cho phát triển đến đâu cũng là một động vật. Ph.Ăngghen khẳng định : “Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật”.
Cũng như những động vật khác, con người là một bộ phận của tự nhiên, “Giới tự nhiên… là thân thể vô cơ của con người… đời sống thể xác và đời sống tinh thần của con người gắn liền với tự nhiên”, nhưng con người khác với động vật vì con người là một thực thể xã hội.
Con người là thực thể xã hội, vì các hoạt động xã hội, trước hết và quan trọng nhất là hoạt động lao động sản xuất, đã làm cho con người trở thành con người với đúng nghĩa của nó. “Người là giống vật duy nhất có thể bằng lao động mà thoát khỏi trạng thái thuần túy là loài vật”.
Theo Mác, xã hội suy cho cùng là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người. Con người tạo ra xã hội, là thành viên của xã hội. Mọi biểu hiện sinh hoạt của con người là biểu hiện và là khẳng định của xã hội. 
Như vậy, con người không phải là một động vật thuần túy mà là một “động vật xã hội” – một thực thể sinh vật – xã hội; con người “ bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội”. Thực thể sinh vật và thực thể xã hội ở con người không tách khỏi nhau, trong đó thực thể sinh vật là tiền đề mà trên cái tiền đề đó thực thể xã hội tồn tại và phát triển.
Con người tồn tại trước hết với tư cách là sản phẩm của tự nhiên. Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính loài. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Con người trước hết là một tồn tại của dạng sinh vật, biểu hiện trong những cá nhân con người sống, là tổ chức cơ thể của con người và mối quan hệ của nó với tự nhiên.
Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quyết định bản chất con người. Con người trước hết là một động vật, nhưng chỉ dừng lại ở những thuộc tính chung của động vật thì không thể giải thích được gì nhiều về con người với tính cách là con người. Ngày nay những khoa học về cơ thể con người đã đạt đến trình độ rất cao trong nghiên cứu về các quá trình hoạt động thần kinh cao cấp, di truyền, sinh hoá, tâm - sinh lý… Các kết quả nghiên cứu này đã đem lại sự hiểu biết sâu sắc về những thuộc tính sinh học của con người, vạch ra các cơ sở, quy luật tự nhiên có ảnh hưởng to lớn đến hành vi của con người. Từ đấy vạch ra các phương hướng hoàn thiện, phát triển cơ thể con người, thích ứng hơn nữa với đời sống xã hội như về sức khỏe, tuổi thọ, hoạt động thần kinh, tạo tiền đề sinh học cho trí thông minh… Đây là những giá trị mới của văn minh nhân loại, mở ra một giai đoạn đi sâu vào bí mật tự nhiên trong cơ thể con người và tác động chủ động đến nó để tạo ra sức sống và hoạt động tối ưu của các cá nhân người. Nhưng từ đấy đi đến sinh vật hoá toàn bộ con người trong lịch sử xã hội sẽ dẫn đến nhận thức sai lầm về bản chất và chỉnh thể cuộc sống của con người. Chẳng hạn như xem văn hoá là sản phẩm tính sinh học, xem mâu thuẩn trong cuộc sống của con người là do tác động qua lại của hoàn cảnh và các thực thể sinh học của hoàn cảnh ấy. Và cố giải thích lịch sử loài người bằng những luận giải về sinh học kể cả lý tưởng, đạo đức, hành vi, trí thông minh, số phận của mỗi con người đều được định sẵn trong thể trạng con người… Đem những tính chất riêng biệt để giải thích chỉnh thể con người mà vốn nó có chất lượng hoàn toàn khác với động vật như quan điểm trên rõ ràng không thể phản ánh đúng con người như nó đang sống.
Con người thời xa xưa và con người ngày nay khác nhau biết bao về năng lực sáng tạo, về lối sống, về hoạt động sản xuất,… nhưng về mặt cơ thể, di truyền sinh vật chưa có biến đổi gì đáng kể.
Con người sống, hoạt động không phải chỉ theo những bản năng di truyền có sẵn như các động vật thông thường mà chủ yếu theo sự phát triển của văn hoá, của tiến bộ lịch sử - xã hội. Ngay một đứa bé bắt chước giọng nói, nụ cười, tiếng gọi cha, mẹ, tiếp theo là tính hiếu kỳ, so sánh… không thể chỉ cắt nghĩa từ nguồn gốc sinh vật thuần tuý. Nói một cách khác, ngay trong di truyền sinh vật ở con người cũng đã chứa nội dung xã hội. Đó là chưa nói đứa bé còn phải học, phải làm việc mới trở thành người. 
Con người không phải là động vật thường mà là một thực thể vật chất đặc biệt, hoạt động có ý thức, có khả năng sáng tạo lại mọi đối tượng khác theo nhu cầu của mình. Nội dung của thế giới nội tâm và chỉnh thể cuộc sống của từng con người không thể là những gì chỉ tự nhiên trực tiếp đưa lại mà chủ yếu là từ cuộc sống, từ quan hệ xã hội, từ khoa học, kỹ thuật, kinh tế cho đến âm nhạc, thơ ca,… Con người đâu có phải chỉ là sự tiến hoá sinh vật. Tiếp cận từ mặt sinh vật, nhiều lắm chỉ dẫn đến hoàn thiện cơ thể con người chứ không thể hoàn thiện toàn bộ cuộc sống và hoạt động của con người. Và về mặt xã hội, cách đó tất nhiên cũng chỉ dẫn đến một số biện pháp “khai sáng” riêng biệt mà không dẫn đến cải biến toàn bộ đời sống thật của con người, đó là chưa nói đến những xu hướng phản động, phân biệt chủng tộc, hay muốn tạo ra những cá nhân ưu việt thống trị mọi người khác. Tất cả hoạt động của con người đều phải qua cơ thể sinh vật của mình, phụ thuộc không ít vào chất lượng của cơ thể đó. Nhưng đó mới chỉ là cơ sở tự nhiên chứ không phải là toàn bộ ngọn nguồn và nội dung sống của con người.

Tiểu luận trung cấp chính trị, quản lí giáo dục: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 

Lĩnh vực áp dụng: Tiểu luận dành cho tốt nghiệp lớp Trung cấp chính trị, Thạc sĩ Quản lí Giáo dục, Tiểu luận Quản lí nhà nước ngạch chuyên viên về giáo dục, Tiểu luận lớp chuyên viên chính

QLGD, Quản lí, SKKN, SKKN QLGD, Tiểu luận, Tiểu luận QLGD, Tiểu luận Trung cấp chính trị, 




Du lịch khám phá đất nước Lào giá rẻ
Khám phá đất nước Triệu voi

0 nhận xét Blogger 0 Facebook

Đăng nhận xét

 

 
Soi điểm chuẩn chọn trường ©Email: tailieuchogiaovien@gmail.com. All Rights Reserved. Powered by >How to best

Top
//